Tìm hiểu về Giải vô địch wimbledon
Giải vô địch wimbledon là giải gì ?
Giải vô địch Wimbledon là giải quần vợt lâu đời được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1877 tại Wimbledon. Chính vì vậy giải đấu quần vợt có thể nói là danh giá nhất thế giới này được đặt tên là Wimbledon. Giải vô địch Wimbledon có thời gian tương đối ít, giải này chỉ diễn ra trong vòng hai tuần. Thường bắt đầu vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7.
Tìm hiểu lịch sử Giải vô địch Wimbledon
Vào năm 1873 Major Walter Clopton Wingfield phát minh ra bộ môn thể thao quần vợt tập luyện và thi đấu trên sân cỏ. Giải vô địch quần vợt Giải vô địch wimbledon chính thức được bắt đầu sau khi câu lạc bộ đổi tên lại là The All England Croquet and Lawn Tennis Club vào năm 1877.
Từ đó một bộ luật thi đấu mới cũng được xây dựng dành cho giải đấu danh giá này. Năm 1877, Spencer Gore giành được danh hiệu cao quý nhất, Giải vô địch đơn nam ghi nhận thu hút khoảng 200 khán giả. Lúc bấy giờ giá vé để xem trận chung kết chỉ là một đồng si-linh.
Riêng sự kiện quần vợt nữ đầu tiên thì được tổ chức vào năm 1884.Lúc này chỉ có 13 người tham gia giải đấu với chiến thắng ở danh hiệu đơn nữ đó chính là Maud Watson.
Nguồn gốc Giải vô địch Wimbledon hàng đầu thế giới
Cũng trong năm này sự kiện quần vợt đôi nam được tổ chức dưới sự tài trợ bởi câu lạc bộ Quần vợt Đại học Oxford. Giải vô địch Wimbledon ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi hơn cả về chất lượng giải đấu cũng như sự quan tâm của người hâm mộ.
Cho đến khi xuất hiện sự hai anh em sinh đôi người Anh Ernest và William Renshaw. Giải đấu này ngày càng thu hút được người hâm nhiều hơn. Chỉ trong vòng 8 năm 2 anh em này đã có được 13 danh hiệu cả đánh đơn và đánh đôi. Trong hơn 1 thập kỷ tiếp theo người hâm mộ chứng kiến sự thống trị của anh em nhà Doherty.
Đầu thế kỷ 20, giải đấu bắt đầu kịch tính hơn, với sự xuất hiện của các tay vợt nước ngoài. Một trong những tay vợt nước ngoài đầu tiên giành danh hiệu Wimbledon là May Sutton của Mỹ vào năm 1905. Cũng tại giải Wimbledon vào năm 1907 anh tiếp tục giành danh hiệu cao quý nhất. Cũng vào năm này danh hiệu đơn nam tại giải Wimbledon được tay vợt người Úc là Norman Brookes chinh phục.
Thời gian trôi qua, tình cảm của người hâm mộ ngày càng tăng cao. Các thiết bị cũng được cải tiến rất nhiều, mặt sân được tái xây dựng và di dời đến địa điểm mới ở Church Road vào năm 1922. Lúc này sân vận động mới có sức chứa lên đến 14.000 khán giả.
Giải đấu Wimbledon trong Thế chiến thứ hai
Trong thời kỳ chiên tranh thế giới lần thứ II, Các cơ sở của câu lạc bộ được sử dụng để xây dựng đồn dân phòng và các đồn quân sự.. để phục vụ chiến tranh. Giải đấu Wimbledon này gần như đã sụp đổ trong thời chiến này.
Giải đấu Wimbledon sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Năm 1945, từ tháng 6 và tháng 7, Giải đấu danh giá này được tổ chức trở lại với một loạt các trận đấu vô cùng hấp dẫn. Lúc này chỉ còn Sân số 1 không bị tàn phá bởi chiến tranh.
Tiếp theo vào tháng 8, những vòng đấu cuối của Giải vô địch Âu Mỹ được diễn ra. Tuy nhiên mãi cho đến ăm 1949 các kế hoạch phục hồi mới được bắt đầu thực hiện.
Thông tin giải vô địch Wimbledon mới nhất
Là một trong các giải đấu quần vợt được công nhận trên toàn thế giới. Theo đó ” The All England Lawn Tennis Club ” vẫn là nhà tổ chức chính của giải đấu. Trải qua thời gian, chất lượng của giải đấu ngày càng được cải thiện. Điều đó được thể hiện ở mỗi sân vận động đều chật kín chỗ ngồi dành cho khán giả.
Bảng xếp hạng Wimbledon mới nhất 2019
Bảng xếp hạng tennis Nam ( Wimbledon )
TT | Tay vợt | Tuổi | +- Xh so với tuần trước |
Điểm |
1 | Novak Djokovic (Serbia) | 32 |
0
|
12,415 |
2 | Rafael Nadal (Tây Ban Nha) | 33 |
0
|
7,945 |
3 | Roger Federer (Thụy Sỹ) | 37 |
0
|
6,620 |
4 | Dominic Thiem (Áo) | 25 |
0
|
4,595 |
5 | Alexander Zverev (Đức) | 22 |
0
|
4,405 |
6 | Stefanos Tsitsipas (Hy Lạp) | 20 |
0
|
4,215 |
7 | Kei Nishikori (Nhật Bản) | 29 |
0
|
4,040 |
8 | Kevin Anderson (Nam Phi) | 33 |
0
|
3,610 |
9 | Karen Khachanov (Nga) | 23 |
0
|
2,980 |
10 | Fabio Fognini (Italia) | 32 |
0
|
2,785 |
11 | Juan Martin del Potro (Argentina) | 30 |
0
|
2,740 |
12 | John Isner (Mỹ) | 34 |
0
|
2,715 |
13 | Daniil Medvedev (Nga) | 23 |
0
|
2,625 |
14 | Borna Coric (Croatia) | 22 |
0
|
2,205 |
15 | Gael Monfils (Pháp) | 32 |
0
|
1,985 |
16 | Nikoloz Basilashvili (Georgia) | 27 |
0
|
1,960 |
17 | Milos Raonic (Canada) | 28 |
0
|
1,945 |
18 | Marin Cilic (Croatia) | 30 |
0
|
1,940 |
19 | Stan Wawrinka (Thụy Sỹ) | 34 |
0
|
1,715 |
20 | Matteo Berrettini (Italia) | 23 |
0
|
1,665 |
21 | Felix Auger-Aliassime (Canada) | 18 |
0
|
1,654 |
22 | Roberto Bautista Agut (Tây Ban Nha) | 31 |
0
|
1,600 |
23 | David Goffin (Bỉ) | 28 |
0
|
1,510 |
24 | Diego Schwartzman (Argentina) | 26 |
0
|
1,485 |
25 | Gilles Simon (Pháp) | 34 |
0
|
1,445 |
26 | Guido Pella (Argentina) | 29 |
0
|
1,430 |
27 | Denis Shapovalov (Canada) | 20 |
0
|
1,390 |
28 | Lucas Pouille (Pháp) | 25 |
0
|
1,340 |
29 | Alex de Minaur (Australia) | 20 |
0
|
1,330 |
30 | Kyle Edmund (Vương Quốc Anh) | 24 |
1
|
1,325 |
. |
||||
227 |
Andy Murray (Vương Quốc Anh) | 32 | -13 | 210 |
. |
||||
417 |
Lý Hoàng Nam (Việt Nam) | 22 | -2 | 31 |
Bảng xếp hạng tennis Nữ
TT | Tay vợt | Tuổi | +- Xh so với tuần trước |
Điểm |
1 | Ashleigh Barty (Australia) | 23 | 0 | 6,495 |
2 | Naomi Osaka (Nhật Bản) | 21 | 0 | 6,377 |
3 | Karolina Pliskova (CH Séc) | 27 | 0 | 6,055 |
4 | Kiki Bertens (Hà Lan) | 27 | 0 | 5,430 |
5 | Angelique Kerber (Đức) | 31 | 0 | 4,805 |
6 | Petra Kvitova (CH Séc) | 29 | 0 | 4,555 |
7 | Simona Halep (Romania) | 27 | 0 | 4,063 |
8 | Elina Svitolina (Ukraine) | 24 | 0 | 3,868 |
9 | Sloane Stephens (Mỹ) | 26 | 0 | 3,682 |
10 | Serena Williams (Mỹ) | 37 | 1 | 3,411 |
11 | Aryna Sabalenka (Belarus) | 21 | –1 | 3,365 |
12 | Anastasija Sevastova (Latvia) | 29 | 0 | 3,296 |
13 | Belinda Bencic (Thụy Sỹ) | 22 | 0 | 3,073 |
14 | Marketa Vondrousova (Cộng Hòa Séc) | 20 | 2 | 2,775 |
15 | Qiang Wang (Trung Quốc) | 27 | 0 | 2,752 |
16 | Madison Keys (Mỹ) | 24 | 1 | 2,615 |
17 | Julia Goerges (Đức) | 30 | 1 | 2,605 |
18 | Johanna Konta (Anh) | 28 | 1 | 2,430 |
19 | Caroline Wozniacki (Đan Mạch) | 28 | –5 | 2,418 |
20 | Anett Kontaveit (Estonia) | 23 | 0 | 2,335 |
21 | Elise Mertens (Bỉ) | 23 | 0 | 2,195 |
22 | Donna Vekic (Croatia) | 23 | 0 | 2,180 |
23 | Caroline Garcia (Pháp) | 25 | 0 | 2,105 |
24 | Petra Martic (Croatia) | 28 | 0 | 2,105 |
25 | Bianca Andreescu (Canada) | 19 | 0 | 1,996 |
26 | Amanda Anisimova (Mỹ) | 17 | 0 | 1,949 |
27 | Garbiñe Muguruza (Tây Ban Nha) | 25 | 0 | 1,925 |
28 | Sofia Kenin (Mỹ) | 20 | 0 | 1,895 |
29 | Su-Wei Hsieh (Đài Loan, Trung Quốc) | 33 | 0 | 1,885 |
30 | Daria Kasatkina (Nga) | 22 | 0 | 1,745 |
. |