Home Blog Soạn bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

Soạn bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

0
Soạn bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

Đến với nội dung soạn bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu, THPT Sóc Trăng sẽ giúp các em có thể cảm nhận rõ ràng, chân thực bức tranh chạy giặc tan tác, chia lìa của nhân dân lục tỉnh trước tình thế nguy nan của đất nước phút sa tay giặc. Qua đó, nhận thức được ý nghĩa tố cáo của bài thơ về những tội ác của kẻ thù, bọn vua quan phong kiến thối nát và bồi đắp thêm tinh thần yêu nước sâu sắc.

 Cùng tham khảo…

Bạn đang xem: Soạn bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

Hướng dẫn soạn bài Chạy giặc

Chạy giặc là một bài đọc thêm vì vậy có thể theo phân phối chương trình, các em học sinh sẽ soạn bài ở mức độ vừa phải, không quá dài. Đọc tài liệu cung cấp một bài soạn ngắn gọn nhưng vẫn đầy đủ các ý trả lời câu hỏi sách giáo khoa cho các em tham khảo dưới đây.

Soạn bài Chạy giặc ngắn gọn nhất (siêu ngắn)

Câu 1 trang 49 SGK

Cảnh đất nước và nhân dân khi thực dân Pháp đến xâm lược được miêu tả như thế nào ? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

Trả lời:

Cảnh đau thương của đất nước được hiện lên qua những hình ảnh:

+ Lũ trẻ lơ xơ chạy

+ Đàn chim dáo dác bay.

+ Bến Nghé tan bọt nước.

+ Đồng Nai nhuốm màu mây.

=> Hình ảnh chân thực dân, lên khung cảnh hoảng loạn của nhân dân, sự chết chóc, tang thương của đất nước trong buổi đầu có thực dân Pháp xâm lược.

Câu 2 trang 49 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

Trả lời:

Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ đau đớn, xót xa, là ngọn lửa căm thù trước tội ác trời không dung đất không tha của giặc. Ông còn thất vọng và bất bình biết mấy trước tình cảnh quân của triều đình bỏ mặc dân, không ra chống giặc.

Câu 3 trang 49 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu thơ kết:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc họa này”

Trả lời:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc họa này”

– “Trang” chỉ người đáng kính trọng. “Trang dẹp loạn” là người có chức trách trước tình cảnh của nước, của dân. Nhưng họ lại: “Nỡ để dân đen mắc nạn này” . Nhà thơ trách cứ triều đình nhà Nguyễn thờ ơ, vô trách nhiệm. Tất cả những điều đó đều nói lên lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Đình Chiểu.

Nếu bài soạn Chạy giặc siêu ngắn phía trên chưa đáp ứng được nhu cầu về soạn văn 11 của các em, thì Đọc tài liệu bổ sung thêm bài soạn chi tiết về bài thơ này cho các em tham khảo thêm.

Soạn bài Chạy giắc chi tiết

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Chạy giặc (SGK Ngữ văn 11 tập 1 trang 49) đầy đủ, chi tiết.

Bài 1 trang 49 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Cảnh đất nước và nhân dân khi thực dân Pháp đến xâm lược được miêu tả như thế nào ? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

Trả lời:

* Cảnh đất nước và nhân dân khi thực dân Pháp đến xâm lược:

– Mở đầu nhà thơ dùng cảnh chợ tan để thông báo một hiện thực tan nát. Lúc tan chợ là khung cảnh tập trung người đông đúc, thanh bình, người người đi mua bán, sự xâm lược của thực dân Pháp đã phá vỡ cuộc sống bình yên đó.

– Cảnh loạn lạc diễn ra rất nhanh “phút sa tay”, mọi sự chuẩn bị không thể nào ngăn cản bước tiến của kẻ thù. Tiếng súng là sự mở đầu cho cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

– “Một bàn cờ thế phút sa tay“: nói lên tình cảnh của đất nước ta hiện giờ rất khó khăn, nguy hiểm, chỉ cần đi sai một bước hậu quả khôn lường.

– Nhân dân ta hoảng loạn, tan tác, nơi ở xác xơ tan hoang : “lũ trẻ lơ xơ chạy“, “bầy chim dáo dác bay“…

– Đối tượng của cuộc chạy giặc được đặc tả là “lũ trẻ”, lối chạy là ngơ ngác, thất thần, không người dẫn dắt “lơ xơ chạy”. Cách miêu tả này cho thấy sự hoảng loạn cùng tận của con người, lũ trẻ bị lạc mất bố mẹ, bố mẹ không tìm thấy con hoặc đã bị giết vì kẻ thù.

– Hình ảnh “bầy chim dáo dác bay” vừa diễn tả đàn chim, những sinh vật hiền lành sống trong tự nhiên cũng bị tác động bởi bom đạn chiến tranh, bởi sự tàn phá mái ấm do thực dân Pháp gây ra, vừa là hình ảnh ẩn dụ cho “lũ trẻ”. như đàn chim kia, bọn trẻ không còn nơi nương náu.

=> Cho dù hiểu cách nào đi chăng nữa thì một hiện thực thảm khốc đã phơi bày, những sinh linh nhỏ bé bị cuộc xâm lược phủ nghĩa làm cho tan tác chia lìa. Giá trị hiện thực, chiến đấu và trữ tình trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu góp phần tố cáo tội ác của thực dân bấy giờ gây căm phẫn.

– Không gian chạy giặc tiếp tục được mở rộng. Ban đầu cái nhìn của tác giả tập trung cận cảnh (trên mặt đất với hình ảnh những đứa bé bơ vơ đang chạy giặc), mở rộng lên trời (đàn chim bay dáo dác), rồi tiếp tục mở rộng ra thêm nữa (với Bến Nghé, Đồng Nai).

– Cách đảo trạng từ (lơ xơ, dáo dác) lên trước động từ càng khắc họa thêm động thái hoang mang, bơ vơ của những sinh linh bé bỏng.

– Cuộc tàn phá diễn ra trên diện rộng, đâu đâu cũng thấy tội ác của kẻ thù: của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây.

=> Sự bị động của nhân dân, của triều đình phong kiến trước sự xâm lược của kẻ thù đã dẫn đến hậu quả là mất nước. Đồng nghĩa với việc mất mát về người, về của là những vết thương không dễ gì lành lại được.

* Nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả:

Với ngôn ngữ hiện thực, trong trẻo, hai câu tả thực (câu 3, 4) của bài thơ là một bức tranh cụ thể sinh động thể hiện lại tình cảnh tan tác bi thương của nhân dân khi ấy. Sự xuất hiện của giặc thù quá đột ngột, sự chống chọi của quân ta lại thất bại quá nhanh chóng khiến cảnh dắt dìu gồng gánh nhau chạy loạn càng thật đau lòng. Đang sống hạnh phúc êm ấm bên những người thân, bất chợt giặc thù từ đâu ập đến bắt giết, mọi gia đình đều chưa chuẩn bị gì, chỉ biết hốt hoảng dắt nhau trốn chạy. Nhà thơ đặc tả cảnh tượng ấy bằng hai chữ hình ảnh lũ trẻ lơ xơ chạybầy chim dáo dác bay. Lối đảo ngữ lơ xơ, dáo dác lên trước trong trường hợp này làm nổi bật lên trước mắt người đọc dáng vẻ xơ xác, tan tác của lũ trẻ và bầy chim nhưng cũng khắc họa được tâm trạng hoang mang và ngơ ngác của chúng.

Ban đầu cái nhìn của tác giả tập trung cận cảnh (trên mặt đất với hình ảnh những đứa bé bơ vơ đang chạy giặc), mở rộng lên trời (đàn chim bay dáo dác), rồi tiếp tục mở rộng ra thêm nữa (với Bến Nghé, Đồng Nai). Hai câu tiếp theo, không gian chạy giặc đã được mở rộng, ông tiếp tục vẽ lên một bức tranh toàn cảnh quê hương bị giặc thù đang tâm tàn phá trong một không gian thật là xa rộng:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Tuy Bến Nghé, Đồng Nai chỉ là một bến nước, một dòng sông ở Gia Định nhưng đó cũng chính là toàn cảnh của quê hương ta khi quân Pháp đặt gót giày xâm lược đến. Cả một mảnh non sông gấm vóc đang yên ổn tốt tươi trong phút chốc đã bị kẻ thù đang tâm tàn phá thành ra tro bụi. Tiền tài, sản vật của nhân dân bị chúng thả sức cướp bóc. Nhà của làng quê bị đốt phá, lửa khói dấy lên ngút trời. Nỗi xót đau thương thật lay động cả trăng sao.

Bài 2 trang 49 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

Trả lời:

Từ cảnh thực, bài thơ được khép lại bằng sự xót xa:

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này? 

Tâm trạng bao trùm bài thơ là nỗi đau. Nỗi đau ấy thấm sâu vào tận câu chữ nhưng đọng lại đậm nét nhất là hai câu kết. Đó là câu hỏi nhưng là câu hỏi tu từ. Câu hỏi nhưng cũng là mỉa mai, trách cứ. “Trang dẹp loạn” là cách nói trang trọng, thường để chỉ những đấng anh hùng, nhưng “trang dẹp loạn” đi liền sau câu hỏi “rày đâu vắng?” càng tăng thêm tính mỉa mai. Hai câu cuối còn là một tiếng kêu cứu. Vì vậy, bài thơ là nỗi đau, đau nước, đau dân, đau lòng. Trong nỗi đau ấy còn có cả nỗi đau của một tấm lòng trung quân đã cảm thấy sự đổ vỡ niềm tin vào triều đình phong kiến.

Từng câu, từng chữ trong mỗi câu thơ là một tiếng kêu đau đớn, xót xa xuất phát từ trái tim nồng nàn yêu quê hương, đất nước, đỏ rực ngọn lửa căm thù trước tội ác trời không dung đất không tha của giặc. Nhà thơ không những đau xót vì cảnh quốc phá gia vong, nhân dân tan tác, đau thương, lơ xơ, dáo dác mà ông còn thất vọng và bất bình biết mấy trước tình cảnh quê hương ngập tràn bóng giặc mà quân của triều đình thì bặt tăm khuất dạng bỏ mặc nhân dân phải chịu thống khổ điêu linh.

Các em học sinh có thể xem thêm bài văn mẫu Phân tích bài thơ Chạy giặc chi tiết để có thể cảm nhận thêm về tâm trạng, tình cảnh của tác giả trong hoàn cảnh đó, từ đó trả lời câu hỏi bài 2 được chi tiết nhất.

Bài 3 trang 49 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1

Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu thơ kết:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc họa này”

Trả lời

Hai câu thơ cuối bài đã bộc lộ nỗi niềm trăn trở của tác giả. Câu hỏi tu từ vang lên đầy tha thiết, không chỉ là kêu gọi mà còn là hàm ý bao thắc mắc trước sự vắng mặt của kẻ có trách nhiệm với quê hương, đất nước. Câu thơ còn bộc lộ sự thất vọng sâu sắc về triều đình cũng như biểu hiện được lòng thương dân sâu sắc của Đồ Chiểu.

Nguyễn Đình Chiểu đặt ra câu hỏi, không phải hỏi chung chung mà là hỏi rất cụ thể. “Trang” chỉ người đáng kính trọng. “Trang dẹp loạn” là người có chức trách trước tình cảnh của nước, của dân. Nhà thơ đề cao họ trong mấy từ này. Song câu kết “Nỡ để dân đen mắc nạn này” lại hạ thấp họ. Sự thờ ơ, vô trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn, của vua, quan chức sắc, của tư tưởng bạc nhược, của hành động hèn nhát có thấy gì không? Câu hỏi như một cái tát không kìm nén của một người yêu nước vào mặt những con người ấy. Tiếng kêu quặn thắt của một tấm lòng trung quân đã cảm thấy đổ vỡ niềm tin đối với triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Đồng thời nhà thơ cũng không giấu nỗi xót xa. Tất cả những điều đó đều nói lên lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Đình Chiểu.

Tác giả, tác phẩm Chạy giặc

I. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

Tác giả Nguyễn Đình Chiểu không còn xa lạ với các bạn học sinh thông qua tác phẩm Lẽ ghét thương đã được học ở tiết học trước. Vì vậy để tìm hiểu lại các thông tin về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, các em có thể tham khảo lại nội dung của bài soạn Lẽ ghét thương để nắm lại thông tin cơ bản về tác giả này.

II. Tác phẩm Chạy giặc

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử và nội dung tác phẩm, các nhà nghiên cứu xác định bài thơ được sáng tác ngay sau khi thành Gia Định bị thực dân Pháp tấn công vào ngày 17.2.1859. Vậy có thể phỏng đoán Chạy giặc được sáng tác vào năm 1859.

– Nhan đề tác phẩm có sách ghi là Chạy Tây.

2. Bài thơ

CHẠY GIẶC

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ thế phút sa tay.

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

Mất ổ bầy chim dáo dác bay.

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?

3. Phương thức biểu đạt

– Bài thơ Chạy giặc thuộc thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

– Chạy giặc thuộc thể loại: thơ ca yêu nước.

4. Nội dung chính

– Thông qua việc miêu tả bức tranh chạy giặc tan tác, chia lìa của nhân dân lục tỉnh trước tình thế nguy nan của đất nước phút sa tay giặc, bài thơ lên tiếng tố cáo tội ác của giặc xâm lược, của vua quan phong kiến thối nát và kêu gọi tinh thần đấu tranh của nhân dân.

5. Bố cục

Có thể chia bài thơ làm 2 phần để phân tích:

– 6 câu đầu: Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc pháp xâm lược

– 2 câu cuối: Tâm trạng của tác giả, lời kêu gọi đấu tranh

6. Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

– Nội dung

Bài thơ gợi lại một thời đại đau thương của dân tộc, gợi lòng căm thù với kẻ thù xâm lược

– Nghệ thuật

+ Là sự kết hợp với khái quát, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh có giàu sức gợi tả, gợi cảm.

+ Sử dụng các biện pháp tu từ: Đối lập, câu hỏi tu từ…. tô đậm cảm xúc.

Tổng kết

Bài thơ “Chạy giặc” chính là một tác phẩm tiêu biểu của phong cách nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, mang một ý nghĩa sâu sắc lay động người đọc, trở thành nhân chứng lịch sử, gắn với niềm vui, nỗi buồn của dân tộc.

Bài thơ đã thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu.

// Các em vừa tham khảo nội dung chi tiết bài soạn văn Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu do THPT Sóc Trăng biên soạn. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 11 bài Chạy giặc này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Chạy giặc một cách tốt nhất.

Soạn bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu ngắn gọn, đầy đủ, gợi ý hướng dẫn đọc hiểu bài trang 49 sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 tập 1.

Đăng bởi: THPT Sóc Trăng

Chuyên mục: Giáo dục

Rate this post