Home Blog Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1

Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1

0
Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1

Viết bài tập làm văn số 3 lớp 10 đề 1 – Với đề bài này, các em cần nắm được nội dung của bài Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, qua đó vận dụng kỹ năng của bản thân để kể lại câu chuyện.

Để làm bài tốt hơn, mời các em tham khảo bài hướng dẫn chi tiết dưới đây của Đọc tài liệu nhé!

Đề bài: Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba (mở rộng tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ).

Bạn đang xem: Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1

Gợi ý làm bài:

Đề bài yêu cầu chúng ta kể lại việc Vũ Nương ngồi than vãn bên sông Hoàng Giang trước khi tự vẫn. Để làm được bài này, em cần phải giới thiệu mình là cây lau và kể theo ngôi thứ 3 hoặc ngôi thứ 1 (cây lau), từ đấy thuật lại những gì mình đã chứng kiến việc Vũ Nương ngồi than vãn bên bờ Hoàng Giang trước khi gieo mình suống sông tự vẫn.

Về phần thân bài em có thể tham khảo các diễn biến sau:

– Hoàn cảnh bạn gặp Vũ Nương.

– Tâm trạng của Vũ Nương khi ra bờ sông như thế nào?

– Nàng than thở gì về cuộc sống gia đình.

– Nàng mong ước gì về cuộc sống hiện tại.

– Vũ Nương trẫm mình xuống sông.

Về phần kết bài em nêu cảm nghĩ của mình (cây lau) khi nhìn Vũ Nương trẫm mình xuống sông.

Dàn ý chi tiết viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1

Mở bài:

Vào một chiều mùa hạ oi ả, những cơn gió lao xao bên bờ sông không thể xoa đi chút nóng nực trong tôi. Sống ở đây đã vài năm nhưng tôi chưa bao giờ chứng kiến một câu chuyện bất hạnh về người phụ nữ như vậy.

Thân bài:

– Giới thiệu Vũ Nương:

+ Người phụ nữ xinh đẹp, nhưng khuân mặt rầu rĩ, bước đi nặng trịch dần dần tiến sát bên bờ sông.

+ Nàng than thở cho thời gian đằng đẵng chờ chồng quay về, cảnh côi cút nuôi con.

+ Vui mừng, hạnh phúc khi chồng quay về, nhưng hạnh phúc chưa được bao lâu thì chồng lại hiểu lầm.

+ Phân bua cũng không được chồng chấp nhận, nàng chỉ còn cách chọn con đường đi đến cõi chết để minh chứng cho tình yêu thủy chung, và tấm lòng trinh bạch của mình.

+ Tôi chỉ là ngọn lau, tiếc rằng không thể hóa thân để giúp nàng, chỉ tiếc rằng người phụ nữ tốt bụng ấy phải chịu quá nhiều đau đớn, khổ hạnh, có chết chắc gì chồng đã hiểu và cảm thông cho nỗi đau của người vợ.

Kết bài:

Nàng lao mình xuống dòng sông tự vẫn, nhưng cuối cùng tấm lòng của nàng được vua Thủy Tề thấu tỏ mà cứu giúp.

Văn mẫu viết bài tập làm văn số 3 lớp 10 đề 1 – Kể lại câu chuyện Người con gái Nam Xương theo ngôi kể thứ nhất hoặc thứ ba

Bài văn mẫu 1

Họ nhà lau tía chúng tôi đã sống trên bờ Hoàng Giang cả triệu năm rồi. Gia tộc tôi đã trải qua bao nhiêu thế hệ tôi cũng không thể nhớ. Nhưng gia đình tôi thường có thói quen truyền kể cho nhau nghe những “chuyện đời” xảy ra ở trên sông mà các thế hệ cha ông của chúng tôi từng chứng kiến. Bao nhiêu năm đã trôi qua và cũng đã quá già để nhớ về mọi chuyện, thế nhưng tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày bi kịch đến với người thiếu phụ Vũ Nương.

Tôi nhớ ngày ấy tôi vẫn còn trẻ lắm. Tôi thường có thói quen thức rất khuya để khỏa mình trong nước dưởi những đêm trăng. Nưởc sông Hoàng Giang ban đêm rất lặng và dịu mát. Trăng sáng, lại được đùa giỡn với mấy chị cá mương thì thật là thỏa thích.

Hôm ấy, đang uốn mình trong nước, tôi bỗng giật mình khi chợt nghe có tiếng ai đang nức nở. Tôi nín lặng, tiếng khóc ngày một rõ hơn. Không nghi ngờ gì nữa (tôi nghĩ), chắc có ai đó đang gặp một chuyện gì đó rất đau thương. Tôi quên ngay anh nước và mấy chị cá mương khi bắt đầu nghe giọng một người đàn bà than thở:

– Con lạy trời lạy đất, lạy hà bá dưới lòng sông! Thân kiếp con khổ quá! Những mong ngày chồng chinh chiến xa về là ngày gia đình đoàn viên sum họp. Vậy mà cái mong ước ấy giờ tan như mây như khói. Bao năm qua con đã phải chịu muôn ngàn cay đắng. Chồng đi chiến trận nơi xa, một mình con tần tảo chăm mẹ già nuôi con nhỏ. Rồi đến khi mẹ già lâm bệnh, con lại chạy đôn chạy đáo lo đủ chuyện thuốc thang mà vẫn không sao cứu được. Mẹ mất đi, con mất hẳn một nguồn động viên, quan tâm, chia sẻ. Ngay lúc ấy con đã phải tự nhắn nhủ mình: Phải nuôi hi vọng. Tất cả mọi điều tốt đẹp, con đã dành cho bé Đản thương yêu. Bao hi vọng được mẹ con con nuôi lớn từng ngày. Vậy mà giờ đây ông trời lại gây cảnh trớ trêu mà cướp đi của con tất cả. Con còn sông để làm chi?

Tôi nghe những lời than thở mà đau xót cho người phụ nữ, Sống ở bên sông, tôi đã chứng kiến bao điều nhưng chưa bao giờ thấy chuyện nào đau lòng như vậy. Đằng sau những câu nói sầu não đến nát lòng kia hẳn phải là một bi kịch lớn. Tôi băn khoăn lắm nhưng chưa kịp suy đoán điều gì thì người đàn bà kia lại khóc:

– Bé Đản, con yêu! Mẹ thật có lỗi với con khi mẹ bỏ đi giữa lúc này. Nhưng mẹ đâu có thể chọn được một con đường nào khác. Bố đã nghi ngờ sự thủy chung của mẹ con ta. Vậy là bao công lao của con và mẹ, bố đều đổ đi tất cả. Mẹ không thể sống trong sự ngờ vực của cha con. Mẹ không thể có lỗi với bà và chấp nhận những gì xấu xa mà mình không có. Mẹ thực sự thủy chung và trinh tiết. Mẹ phải giữ được tâm hồn mẹ trong ánh mắt của những người hàng xóm. Mẹ không thể sống. Mẹ sẽ chết để thức tỉnh sự ghen tuông mù quáng của cha con. Đản thương yêu! Mẹ xin lỗi con vì tất cả!

Sau câu nói ấy, mặt nước bắt đầu khua động mạnh. Tôi giật mình và bàng hoàng nhận ra người đàn bà đang dấn thân về phía lòng sông. Yêu thương và oán giận. Nhưng chỉ là một cây lau nhỏ bé, tôi không thể làm được gì hơn. Nước bắt đầu dâng lên đến ngang người rồi đến gần hết cánh tay người phụ nữ. Người đàn bà đau khổ đã quyết trầm mình để giải những oan khiên.

Bờ sông Hoàng Giang vẫn lặng. Gió vẫn thổi mát rượi nhưng trăng đã khuất. Không gian tĩnh mịch đến ghê người khiến tôi vẫn nghe và nghe rất rõ những lời trăng trôi cuối cùng của người phụ nữ khốn khổ kia.

– Trương Sinh chàng hỡi! Chàng đã phụ công của thiếp. Như một đứa trẻ thơ nghịch một trò chơi mà không cần suy nghĩ; chàng đã coi thường sự thủy chung của thiếp. Nay tình chồng nghĩa vợ đã chẳng thể dài lâu, thiếp chỉ mong sau cái chết này chàng có thể thấy nỗi đau mà thức tỉnh. Chàng hãy chăm sóc cho con, hãy nuôi dạy để cho nó được nên người.

Con xin lạy ông hà bá. Con là Vũ Nương. Nay vì bị oan mà phải chọn tìm cái chết để giải mối oan tình. Thân này đã nguyện dâng cho hà bá. Nhưng con chỉ mong nếu thực lòng thủy chung son sắt thì xin cho được giải mốì oan tình những mong Trương Sinh thức tĩnh. Nhược bằng con đây có chút tư tình, xin hà bá cứ đầy ải mãi mãi dưới tầng địa ngục.

Mặt sông Hoàng Giang đã lặng thinh. Tôi không còn nghe bất cứ một lời nói hay một âm thanh nào nữa. Vậy là hà bá đã đón người phụ nữ kia đi nhẹ nhàng nhưng chắc chắn không thanh thản.

Cả cuộc đời sống ở bên sông, chứng kiến dòng đời bao thay đổi với cả nỗi buồn lẫn niềm vui. Có những chuyện tôi đã quên, có những chuyện tôi còn nhớ nhưng không có chuyện nào tê tái như cái chết của Vũ Nương. Nghe hết câu chuyện ấy, tôi vừa giận anh chồng, lại vừa thương cho người vợ. Họ yêu thương nhau rồi lại gây những đau đớn cho nhau. Bao năm đã trồi qua, nỗi oan của Vũ Nương cũng đã được chính người chồng kia giải. Thế nhưng cho đến tận hôm nay tôi vẫn không hiểu được con người thật vĩ đại và cao cả biết bao nhưng tại sao vẫn có những lúc họ ích kỉ và nhỏ nhen làm vậy?

Bài văn mẫu 2

Trời mới tang tảng sáng. Đằng Đông, những đám mây màu xám đục đang chuyển dần sang sắc hổng phơn phớt. Cái lạnh của đêm thu đọng trong từng giọt sương bám đầy trên lá khiến tôi – một cây lau nhỏ – uốn mình run rẩy. Dòng Hoàng Giang ngái ngủ vẫn chậm chạp trôi xuôi. Không gian vắng lặng. Từ trong làng, thỉnh thoảng vọng ra tiếng gà gáy sớm.

Bỗng nhiên, tôi nghe thấy có tiếng khóc tức tưởi đứt quãng văng vẳng đâu đây. Một bóng người đang tiến đến gần bụi lau mọc sát bờ sông. Gương mặt người ấy rõ dần. Tôi nhận ra đó là Vũ Nương, vì nàng thường ra sông giặt giũ vào mỗi sớm mai. Mọi khi, đứa con trai nhỏ vẫn hay lẽo đẽo theo sau mẹ, nhưng sao hôm nay nàng đì có một mình và lại khóc lóc sầu não thế kia?!

Vũ Nương ngồi thụp xuống vạt cò ướt, gục mặt vào hai bàn tay. Đôi vai gầy của nàng cứ rung lên từng đợt, nom tội nghiệp vô cùng! Bỗng nàng vụt đứng dậy, ngoảnh mặt về phía Đông mà than rằng:

-Cầu xin trời cao đất dày hãy làm chứng cho tấm lòng son sắt thủy chung của Vũ Nương này! Suốt mấy năm chổng xa nhà ra trận, tôi luôn một dạ chờ chổng, giữ gìn tiết hạnh, nào dám đơn sai. Gánh nặng mẹ già, cọn dại, tôi cố gắng lo cho vẹn toàn, chu tất. Những mong hết chiến tranh, vợ chổng, cha con sum họp cho thỏa nỗi ngày trỏng, đêm nhớ. Nào ngờ, chỉ vì câu nói để dỗ dành đứa con thơ những lúc chỉ bóng mình ỉn trên vách giữa đêm khuya, dưới ánh đèn hiu hắt: “Cha Đản về kìa!” mà ra nông nỗi. Trương Sinh chồng tôi vốn tính đa nghi. Tôi thanh minh, thề thốt thế nào cũng không tin, khăng khăng buộc tội tôi ăn ở hai lòng. Xét thấy mình sống trọn đạo dâu con, chồng vợ, chẳng làm điều gì khiến tổ tông, cha mẹ hổ nhục, nay chỉ biết lấy cái chết để giải nỗi oan khiên. Trước khỉ chết, tôi xỉn có một lời nguyền !: “ Nếu tôi đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xỉn làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cồ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chổng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và chịu cho mọi người phỉ nhổ”.

Nói đoạn, nàng leo lên mỏm đất nhô ra sông, gieo mình xuống nước. Trời đất, thần thánh chứng giám lòng thành của Vũ Nương nên sai các nàng Tiên đưa nàng về thủy cung chung sống với Linh Phi.

Ít ngày sau, cũng chính đứa con chỉ bóng Trương Sinh in trên vách buồng lúc đêm khuya mà nói:“Cha Đản lại về kìa!”. Hiểu ra, Trương Sinh vật vã khóc than, ân hận nhưng dã quá muộn mảng.

Hồn Vũ Nương hiện về báo mộng cho Trương Sinh là chiều tối ngày mai hãy bế con ra bến Hoàng Giang để gặp nàng. Theo lời vợ dặn, Trương Sinh lập đàn tế vợ ở ven sông. Lát sau, chàng thấy một đoàn ngựa xe, võng lọng ẩn hiện thấp thoáng giữa dòng. Vũ Nương nói vọng vào những lời thương nhớ và căn dặn chồng săn sóc chu đáo đứa con thơ. Thoáng chốc, tất cả mờ dần rồi tan biến hẳn.Trương Sinh bồng con đứng chết lặng như hóa đá. Cơn ghen tuông vô lối của chàng đã gây ra cảnh sinh li tử biệt. Dù chàng có tự trách mình đến đâu chăng nữa thì người vợ xinh đẹp, nết na cũng không thề trở về. Cảm thương Vũ Nương, dân làng đã lập miếu thờ nàng ngay cạnh khóm lau, chỗ nàng ngồi than thở trước khi trầm mình xuống Hoàng Giang.

**********

Trên đây Đọc tài liệu đã hướng dẫn viết bài tập làm văn số 3 lớp 10 đề 1 với nội dung kể lại câu chuyện Người con gái Nam Xương theo ngôi kể thứ nhất hoặc thứ ba. Hy vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các em trong quá trình học tập môn Ngữ văn lớp 10. 

Xem thêm nhiều bài văn mẫu khác tại doctailieu.com:

  • Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 2

[Văn mẫu 10] Viết bài văn số 3 lớp 10 đề 1: Kể lại câu chuyện Người con gái Nam Xương theo ngôi kể thứ nhất hoặc thứ ba.

Đăng bởi: THPT Sóc Trăng

Chuyên mục: Giáo dục

Rate this post